SKKN Một số thủ thuật dạy nói trong môn Tiếng Anh đối với học sinh Lớp 7

doc 16 trang tamdan 08/11/2025 1490
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số thủ thuật dạy nói trong môn Tiếng Anh đối với học sinh Lớp 7", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_thu_thuat_day_noi_trong_mon_tieng_anh_doi_voi_ho.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số thủ thuật dạy nói trong môn Tiếng Anh đối với học sinh Lớp 7

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ KON TUM TRƯỜNG THCS NGUYỄN SINH SẮC -------------------------------- Sáng kiến kinh nghiệm Một số thủ thuật dạy nói trong môn Tiếng Anh đối với học sinh lớp 7 LĨNH VỰC: MÔN TIẾNG ANH TÊN TÁC GIẢ: TRẦN THỊ HÒA CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG THCS NGUYỄN SINH SẮC Năm Học: 2017 - 2018 0
  2. MỤC LỤC I. Phần mở đầu Trang 1.1. Lý do chọn đề tài 2 1.2. Đối tượng nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.2 1.4. Phương pháp nghiên cứu3 1.5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.3 II. Nội dung 2.1. Thực trạng vấn đề 4 2.1.1 Cơ sở lý luận4 2.1.2. Cơ sở thực tiễn.4 2.2. Các biện pháp đã thực hiện.5 2.3. Kết quả thực hiện. 12 III. Kết luận và kiến nghị 3.1. Kết luận 13 3.2. Kiến nghị 13 1
  3. I. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài: Kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh rất cần thiết cho cuộc sống hiện đại, giúp chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận với thế giới xung quanh. Ngày nay xu hướng hội nhập quốc tế trong nhiều lĩnh vực đã đưa việc giao tiếp tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng. Chính vì vậy kỹ năng giao tiếp tiếng Anh đã trở thành một công cụ đắc lực để chúng ta có thể khẳng định mình trong công việc và trong cuộc sống. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng như du khách quốc tế đang và sẽ lựa chọn Việt Nam là điểm đến của họ. Trong khi đó, có một thực tế đáng buồn là giới trẻ Việt Nam mặc dù được học tiếng Anh như một môn học chính thức ở nhà trường nhưng hầu như vẫn tỏ ra rất thiếu tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài. Nhiều học sinh khi gặp người nước ngoài vẫn không thể nói gì hơn những câu đơn giản như chào hỏi, giới thiệu bản thân. Việc giao tiếp ngoại ngữ kém, đặc biệt là giao tiếp tiếng Anh - ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các giao dịch thương mại và các văn bản mang tính quốc tế, có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công và kĩ năng cạnh tranh của chúng ta khi làm việc trong môi trường hội nhập, chuyên nghiệp và đa văn hóa sau này. Chính vì thế dạy học sinh nói tốt là việc hết sức cần thiết và cấp bách trong việc dạy Tiếng Anh hiện nay. Đối với môn tiếng Anh, việc dạy học tập trung vào kiến thức ngôn ngữ thông qua các kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết và cái đích cuối cùng của việc học là làm sao học sinh có thể vận dụng ngôn ngữ đã học để nghe, nói, đọc và viết và hơn hết là giao tiếp được. Song nó lại là một vấn đề còn nhiều khó khăn đối với học sinh. Trong những năm học được Ban giám hiệu phân công giảng dạy Tiếng Anh lớp 7, tôi rất băn khoăn, trăn trở trước tình hình học tập của các em, nhất là đối với kỹ năng nói. Tôi luôn đặt ra câu hỏi là dạy và học tiếng Anh như thế nào cho có hiệu quả? Làm thế nào để các em có thể nói Tiếng Anh một cách tự nhiên, chủ động, hiểu và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống là điều thật sự cần thiết nhất? Với những trăn trở trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu : “Một số thủ thuật dạy nói trong môn Tiếng Anh đối với học sinh lớp 7” để từng bước giúp học sinh nâng cao khả năng giao tiếp. Rèn luyện cho các em thói quen nói Tiếng Anh ở bất kỳ nơi nào, bất kỳ tình huống nào có thể. 1.2. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số thủ thuật dạy nói giúp học sinh nói tốt, nói tự nhiên. Nghiên cứu một số hoạt động có tác động đến phản xạ nói Tiếng Anh của học sinh. 1.3. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu của đề tài nghiên cứu, đối tượng mà tôi chọn 2
  4. để nghiên cứu là học sinh khối 7 – Trường THCS Nguyễn Sinh Sắc mà mình đang trực tiếp giảng dạy. Cụ thể là học sinh lớp 7H. Đó là các học sinh đã có nền tảng tiếng Anh từ cấp tiểu học và đang tiếp tục học trong chương trình đề án ngoại ngữ quốc gia của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. 1.4. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt kết quả cao nhất, tôi đã tận dụng các nguồn thông tin: - Thu thập thông tin và tài liệu từ các bài báo, sách vở. - Thu thập từ các các phương pháp điều tra, kiểm tra, phỏng vấn và quan sát. - Trao đổi với đồng nghiệp có kinh nghiệm để biết thêm một số thủ thuật khác Trên cơ sở các nguồn thông tin này, tôi đã tiến hành phân tích, đánh giá để đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp tiếng Anh của học sinh. 1.5. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: * Phạm vi nghiên cứu: - Nghiên cứu khả năng giao tiếp Tiếng Anh( Chương trình hệ 10 năm) của học sinh khối 7. - Nghiên cứu sách giáo khoa và sách bài tập để tìm ra những giải pháp thiết thực nhất giúp cho học sinh đạt kết quả cao trong tiết học nói. - Nghiên cứu một số thủ thuật giúp học sinh tự tin trong giao tiếp. * Kế hoạch nghiên cứu: Tháng 9/2017 : Đăng ký đề tài sáng kiến kinh nghiệm + thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài mình nghiên cứu . Tháng 11/2017: Viết đề cương tổng quát. Tháng 12-> 02/2017 : Tiến hành viết sáng kiến kinh nghiệm. Tháng 3 : Hoàn chỉnh SKKN, trình duyệt và bổ sung. 3
  5. II. NỘI DUNG 2.1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ. Qua thực tế giảng dạy Tiếng Anh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Sinh Sắc, tôi nhận thấy hầu hết học sinh có vốn Tiếng Anh rất hạn chế, các em cảm thấy không có nhiều hứng thú trong việc học Tiếng Anh và không tự tin với việc nói Tiếng Anh, các em rất dè dặt trong việc sử dụng Tiếng Anh để giao tiếp với giáo viên và bạn bè trong các giờ học Tiếng Anh, đặc biệt là các tiết học Speaking. Chính vì lẽ đó nhiều học sinh ngồi học một cách thụ động, làm cho không khí lớp rất căng thẳng và nhàm chán. 2.1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN. Theo nghiên cứu của Tiến sĩ A.J.Hoge - giảng viên có bằng Master of TESOL (Teaching English to Speakers of Other Languages) và có kinh nghiệm giảng dạy ở nhiều trường đại học trên thế giới, đa số học sinh không gặp khó khăn gì khi học ngữ pháp tiếng Anh, tuy nhiên khả năng nghe nói rất hạn chế. Thậm chí, đôi khi một số còn cảm thấy tồi tệ, thất vọng mỗi khi có ý định nói tiếng Anh. Ngoài ra, để học sinh có thêm cơ hội giao tiếp bằng tiếng Anh ở mức độ căn bản và dần hình thành năng lực sử dụng ngôn ngữ thì giáo viên phải để cho học sinh luyện nói trong các tiết dạy các kỹ năng khác, trong các tiết học kiến thức ngôn ngữ hoặc đơn giản hơn chỉ là những lúc làm nóng bầu không khí lớp học ( Warm – up), lúc kiểm tra miệng hoặc chỉ lúc thầy trò đối đáp bình thường trong lớp học. Tất cả những điều này rất quan trọng nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy nói. Vì theo một nhà giáo dục học nhận xét "Một người thầy giỏi không phải là người mang chân lí đến cho học sinh mà phải là người đưa học sinh đi tìm chân lí". 2.1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN. Qua khảo sát tại đơn vị nhằm xác định những nhân tố cản trở khả năng giao tiếp Tiếng Anh của học sinh, một số khó khăn sau là chủ yếu: - Chủ đề một số bài học còn chưa gần gũi và có phần khó gây nhàm chán đối với học sinh.( Unit 6: The first university in Viet Nam; Unit 10: Sources of energy) - Học sinh sợ mắc lỗi trong quá trình nói( sợ không phát âm đúng từ nào đó, sợ nói sai câu, .) - Hơn thế nữa, các trang thiết bị được sử dụng trong những tiết tiếng Anh vẫn còn nghèo nàn, phần lớn chỉ có băng cassette và đĩa CD. Những trang thiết bị đó chưa đáp ứng đủ được nhu cầu giảng dạy và học tập tiếng Anh hiện nay. - Ngoài ra, học sinh chưa thực sự có một môi trường nói tiếng Anh một cách thường xuyên để giúp họ luyện tập và củng cố kĩ năng nói. - Một trở ngại nữa là số học sinh trong lớp khá đông (trên 40 em điều này có nghĩa là học sinh sẽ có rất ít thời gian và cơ hội để nói. Ngoài ra, khi học sinh có hai 4
  6. phương tiện ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Việt để sử dụng thì xu hướng tự nhiên là các em sẽ sử dụng phương tiện tốt và dễ dàng hơn đó là tiếng Việt. Đây là hạn chế khó khắc phục, điều này khiến cho giáo viên đứng lớp gặp không ít khó khăn khi muốn tìm ra những mô thức tương tác hiệu quả hơn. Tất nhiên vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau nhưng đây là vấn đề trăn trở của rất nhiều thầy cô giáo dạy tiếng Anh ở bậc học này . Đặc biệt học sinh lớp 6,7 giao tiếp bằng Tiếng Anh tốt là tiền đề quan trọng cho hoạt động giao lưu, trao đổi và tiếp cận các cơ hội thành công trong giai đoạn phát triển tiếp theo, gần nhất là lớp 8,9 và 3 năm THPT. 2.2. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN. Một số thủ thuật tôi đã áp dụng để nghiên cứu trong bài viết này là: 1. Tạo mọi cơ hội giao tiếp bằng Tiếng Anh cho học sinh mọi lúc mọi nơi. 2. Dẫn dắt học sinh tiếp cận và thực hành kỹ năng nói qua từng giai đoạn trong tiết học. 3. Một số hoạt động cần thiết khi dạy nói cho học sinh lớp 7. 1. Tạo mọi cơ hội giao tiếp bằng Tiếng Anh cho học sinh mọi lúc mọi nơi. Trong kỹ năng giao tiếp, mục đích của việc rèn luyện kỹ năng này là sau mỗi bài học, học sinh có thể nắm được nội dung, áp dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Vì vậy dẫn dắt của người giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc đi đúng hướng của học sinh. Để thiết kế được những bài giảng thông qua hoạt động giúp quá trình học và thực hành ngôn ngữ diễn ra theo cách tự nhiên và tự tin nhất, đòi hỏi giáo viên cần có sự đầu tư và sáng tạo để xây dựng các hoạt động phù hợp với trình độ của học sinh và mục tiêu bài giảng, đôi khi cả sở thích của từng nhóm người học nữa. Theo chương sách giáo khoa mới kết hợp phương pháp dạy học mới, học sinh THCS được khuyến khích sử dụng tiếng Anh càng nhiều càng tốt tùy theo trình độ của đối tượng. Trong lớp học, giáo viên cần tạo cơ hội cho học sinh giao tiếp bằng nhiều hình thức: Teacher - Whole class, Teacher - Students, Student – Student. Giáo viên là người hướng dẫn các em làm quen với đàm thoại từ những tình huống đơn giản là các câu chào hỏi đến đàm thoại theo chủ đề. Example: Beginning of the lesson: - Good morning. How are you? - Did you have a nice weekend? - Have you done your homework? - Did you prepare your homework last night? - Let’s play a game now, shall we? - Are you ready? Asking for clarification: - What is it? Please tell me again. 5
  7. - What do you mean? - Could you say it again? - Could you explain more about..? - Would you mind repeating ? Ask for ideas/opinions - What do you think about that (name)? - Do you have any ideas/opinions? 2. Dẫn dắt học sinh tiếp cận và thực hành kỹ năng nói qua từng giai đoạn trong tiết học. Một tiết học nói bao gồm ba giai đoạn : Pre- speaking While - speaking Post - speaking Giáo viên phải sử dụng đa dạng các chiến lược giảng dạy nhằm giúp cho học sinh ở cả ba giai đoạn trong giờ nói. *Giai đoạn trước khi nói (pre - speaking) Trước khi vào bài học, giáo viên nên có các thủ thuật khơi gợi trong ý thức của học sinh những ý tưởng xung quanh chủ đề bài học. Công việc chính của giáo viên trong giai đoạn này là giới thiệu chủ đề bài học một cách đơn giản, ngắn gọn và đạt hiệu quả cao để người học có thể đoán trước cái gì sẽ xảy ra trong bài học, từ vựng nào sẽ được sử dụng, Sau cùng người học có thể lên kế hoạch là mình sẽ nói về bài học đó như thế nào thông qua các hoạt động như: - Matching - Pre-teach vocabulary - Open prediction: (Hoạt động tiên đoán tự do) - Ordering : (Sắp xếp thứ trật tự ý câu, hoặc tranh ảnh ) - Answer the guiding questions (pre- question) - Games Example 1: Unit 1 MY HOBBIES Với chủ đề nói về sở thích nhiều học sinh khá giỏi rất hứng thú, tuy nhiên với những em yếu hơn thì các em còn e dè trong việc trình bày ý kiến của mình. Với những trường hợp như vậy tôi cho các em thực hành nhóm trước khi nói. Một số bạn khá giỏi có thể hổ trợ các bạn yếu kém xây dựng lên một số ý tưởng để nói về sở thích. Name of the hobbies Feelings about HOBBIES When you started the hobby Future To do this hobby you have to Who you share it with 6
  8. Example 2: Unit 3 COMMUNITY SERVICE Với chủ đề phục vụ cộng đồng vô cùng đa dạng, nhiều học sinh thiếu vốn từ để nói, sự chuẩn bị trước khi nói vô cùng quan trọng. Nó giúp các em tự tin hơn khi diễn đạt ý kiến của mình vì các em sẽ mạnh dạn hơn khi trao đổi với bạn. Make postcards Whom will help TO RAISE MONEY type of postcards Where to sell Example 3: Unit 6 THE FIRST UNIVERSITY IN VIETNAM Đây là một bài học tương đối khó với học sinh vì nó vừa liên quan đến địa lý và lịch sử nên việc chuẩn bị trước khi nói vô cùng quan trọng. Với chủ đề khó, giáo viên có thể hổ trợ thông tin và yêu cầu học sinh kết nối thông tin bằng hình thức matching: 7
  9. Sau khi áp dụng một số hoạt động tiêu biểu trên, tôi nhận thấy có sự thay đổi trong tiết học nói. Ban đầu nhiều em ngồi học rất thụ động, không phát biểu. Chỉ nói những câu đơn giản một cách ép buộc. Song được sự hỗ trợ của bạn bè các em đã mạnh dạn hơn. Sau hai tháng các em có vẻ sôi nổi hơn trong việc thảo luận cùng bạn. Đây là một dấu hiệu đáng mừng để bước vào giai đoạn thứ hai trong tiết dạy nói. * Giai đoạn trong khi nói (while- speaking) Ở giai đoạn này, giáo viên có thể đưa ra một số yêu cầu nhằm giúp học sinh chủ động tham gia một cách tích cực vào bài học và khiến cho giờ nói trở nên sinh động hơn thông qua các hoạt động như: - Giving opinions - Discussing - Ask and answer (pairwork) - Matching 8
  10. Example 1: UNIT 5 VIETNAMESE FOOD AND DRINK Trong phần Communication, với phần nói là một bài phỏng vấn xoay quanh chủ đề về ẩm thực, học sinh phải có kiến thức chung về chủ đề này. Sau khi cho học sinh thực hành nhóm để chuẩn bị, tôi đã mời từng nhóm lên trình bày theo hình thức hỏi – đáp. * Interview three students about their favorite foods and drinks . Write their answers in the table below. 1. What’s your favourite food? 2. How does it taste? 3. What’s your favourite drink? 4. When do you often drink it? 5. What foreign food / drink do you like? 6. What new food do you want to try? 7. What food do you hate? 8. What food can you cook? Việc lặp đi lặp lại nhiều lần một câu hỏi cũng giúp học sinh nói trôi chảy hơn khi gặp từ khó. Hay ở tiết Skills 1, phần nói là phần học sinh sẽ giới thiệu cách nấu một món ăn mà mình yêu thích. Với yêu cầu này học sinh tha hồ trình bày ý tưởng sáng tạo của mình. Tuy nhiên để việc nói trước lớp đạt hiệu quả cao giáo viên phải tổ chức cho học làm việc theo cặp( in pairs) hoặc nhóm ( in groups) để học sinh có thể hổ trợ nhau trong việc xây dựng thực đơn. Từ đó học sinh có thể tự tin hơn khi nói. Example 2: UNIT 10 SOURCES OF ENERGY Trong phần Communication học sinh sẽ nói về dấu chân carbon của bạn mình. Với chủ đề này học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ vì nó thuộc về một phạm trù khó. Vì vậy giáo viên phải cung cấp cho các em những thông tin cơ bản như giải thích cho học sinh hiểu dấu chân carbon là gì: Tác động của bạn đến môi trường mạnh đến cỡ nào, những hành động thường nhật của bạn thải thêm vào khí quyển bao nhiêu khí carbonic (CO2); tất cả những số liệu đó sẽ được tính toán đo lường và hiển thị bằng một con số mà chúng ta gọi là carbon footprint – dấu chân carbon. Con số của bạn càng lớn thì tác động xấu của bạn đến môi trường càng mạnh, tựa như một dấu chân khổng lồ in lên bề mặt trái đất vậy. Theo như lý tưởng mà nói, thì khi một người nhìn thấy con số dấu chân carbon của mình và nhận ra cách sống của họ ảnh hưởng đến trái đất nhiều đến mức nào, họ sẽ bắt đầu thực hiện những thay đổi để giảm số dấu chân carbon của mình. Lúc này, họ sẽ lựa chọn những giải pháp có tác động nhẹ nhàng đến môi trường sống hiện tại hơn. Lúc này học sinh mới nhận thức rõ vấn đề và có thể thực hành nói tốt hơn. My partner’s carbon footprint is big. He is considerate because he uses 9
  11. lots of baths. He could try harder to use showers instead of baths. By reducing the use of baths, he can help to save energy. Hoặc My partner’s carbon footprint is small because she recycles the products she uses and she usually goes to school by bike. By doing this, she can help to save energy Một chú ý trong khi học sinh thực hành nói đó là cách thức tổ chức của giáo viên. Tôi luôn chuẩn bị và sắp xếp chủ đề nói cho phù hợp với năng lực và trình độ của từng đối tượng học sinh. Phải tổ chức lớp học khoa học theo đội, nhóm, ngồi xen kẽ nhau giữa bạn khá giỏi với bạn yếu kém. Phải làm thế nào để kích thích học sinh thực hiện kĩ năng nói từ đầu tiết học cho đến cuối tiết. *Giai đoạn sau khi nói (post- speaking) Sau khi học sinh đã giải quyết xong yêu cầu của sách giáo khoa, tôi tiếp tục cho học sinh tiến hành các bài tập đòi hỏi có sự thông hiểu tổng quát của toàn bài, liên hệ thực tế, chuyển hóa vốn kiến thức vừa nhận được để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Chiến lược giảng dạy hợp lý sử dụng ở giai đoạn này là mở rộng những kiến thức tiếp thu từ bài học ở giai đoạn trước và trong khi nói thông qua các thủ thuật như: - Interviewing - Recall/ retell the story or dialoguge. - Role play/ taking a survey - Discuss the main idea. - Summerising the main points - Card Example 1: UNIT 8 FILM Sau khi thực hành xong phần bài tập trong sách, tôi sẽ cho học sinh nói về bộ phim mà chúng yêu thích. Work in pairs, talk about the film you like best: A. What is your favourite film? My favourite film is.. .. A. What kind of film is it? It is Detective/ action/ cartoon/ love story .. A. How much do you like it? Very much/ not very much A. Who is/ are the main character(s)? He/ She is A. When did you see it? I saw it..... A. How do you feel about it? I find it interesting/ moving/ violent . 10
  12. A. Why do you prefer it to other films? Because .. Example 2: UNIT 12 AN OVERCROWDED WORLD Sau khi học sinh thực hành nói về một số tình huống mà sách giáo khoa yêu cầu, tôi cho học sinh thực hành nói về thực tế ở lớp học. Work in groups. Discuss some possible disadvantages that we may have. An overcrowded class Chủ đề này thực sự hấp dẫn học sinh. Cùng với sự hỗ trợ và giúp đỡ của bạn bè cũng như của giáo viên, nhiều em học sinh yếu, học sinh trung bình đã mạnh dạn hơn. Các em đã thực sự tự tin hơn trong khi nói. Các em đã không còn rụt rè, e ngại, không còn sợ sai khi nói. Đối với những học sinh chưa tự tin trong giao tiếp thì họ thường lắng nghe một cách yên lặng và không nói gì trong khi các bạn học sinh khác đang nói. Để có thể khích lệ họ tham gia thực sự vào hoạt động giao tiếp, giáo viên có thể hướng dẫn họ sử dụng cách trả lời đơn giản nhất và ngắn gọn hết mức có thể trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Cách trả lời này đặc biệt phù hợp với người mới bắt đầu học tiếng Anh. Các phát ngôn được sử dụng thường là các cụm từ thông dụng, dễ hiểu ( như Okay; Alright; No; Yes ) để chỉ sự hiểu biết, hay đồng ý, nghi ngờ, hoăc làm gián đoạn người nói để làm chủ tình huống giao tiếp. Như vậy, nếu người học tích lũy được nhiều cách đáp lại ngắn gọn và đơn giản như trên thì họ có thể tập trung vào những gì mà người khác đang nói với họ mà không phải vừa nghe vừa phải nghĩ cách phản hồi. 3. Một số hoạt động cần thiết khi dạy nói cho học sinh lớp 7. Bên cạnh một số thủ thuật trên, giáo viên có thể xây dựng thêm các loại hình bài tập đựơc sử dụng cho việc phát triển kĩ năng nói như: - Role play Một trong những phương pháp nâng cao kỹ năng nói cho học sinh là tổ chức hoạt động dạy học theo hình thức đóng vai. Đây là một phương pháp dạy học thực sự hiệu quả, bởi lẽ nó giúp học sinh có cơ học thực hành giao tiếp trong các bổi cảnh khác nhau. Hơn nữa, phương pháp này còn giúp học sinh sáng tạo và tự tin hơn khi các em phải đặt mình vào nhiều tình huống khác nhau. Mặt khác, các em cảm thấy việc thành thạo tiếng Anh trong việc giao tiếp là không hề khó khăn. - Ask and answer Học sinh có thể tự thực hành theo cặp. Nếu thực hành theo nhóm thì nhóm trưởng đặt một số câu hỏi, các thành viên khác của nhóm có nhiệm vụ trả lời. Giáo viên có thể tổ chức như một cuộc thi: Các câu trả lời được tính điểm dựa trên độ chính xác về ngôn ngữ, cũng như các thông tin. - Dialogue Giáo viên có những từ gợi ý cơ bản hoặc tranh ảnh thể hiện -> học sinh xây dựng đoạn hội thoại rồi thực hành nói. 11
  13. - Substitution drills Thay thế lời thoại hay vấn đề ngữ pháp, từ vựng đã học bằng những lời thoại, vấn đề ngữ pháp, từ vựng mới. Giáo viên yêu cầu lần lượt học sinh nhắc từ, ngữ mới để bạn khác luyện tập theo kiểu dây chuyền. Giáo viên có thể dùng bảng từ : Viết sẵn từ lên tờ bìa cứng rồi giơ nhanh cho học sinh quan sát. Yêu cầu học sinh thay thế từ đó vào vị trí cần thiết trong câu mẫu để tạo thành câu mới. - Chain drills Giáo viên nêu chủ đề cần luyện tập. Giáo viên bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi cho học sinh nào đó. Học sinh đó trả lời câu hỏi của giáo viên xong có nhiệm vụ đặt một câu hỏi khác cho một học sinh tiếp theo. Học sinh này có nhiệm vụ trả lời và đặt tiếp một câu hỏi cho bạn thứ ba, cứ thế hình thức luyện tập dây chuyền này được tiếp tục. - Picture stories Giáo viên sưu tập các bộ tranh, ảnh có nội dung phù hợp với chương trình đã học. Giáo viên làm mẫu, sắm các vai trong chuyện tranh, dùng gợi ý ở tranh làm lời cho nhân vật. Học sinh quan sát và sau đó tập đóng vai theo các nhân vật trong tranh. Trong quá trình giảng dạy mỗi tiết học, mỗi nội dung khác nhau tôi thực hiện nhiều cách thức tổ chức bài học khác nhau để không nhàm chán và phù hợp với khả năng của học sinh trong lớp. Kết quả học sinh lĩnh hội kiến thức nhanh hơn, có hiệu quả hơn. Các em được trao đổi thảo luận một cách thoải mái và thực hành nhiều hơn vì tôi đi theo quy trình từ dễ đến khó. Từ đó gây được hứng thú học tập cho học sinh và các em ngày càng yêu thích môn học hơn. Học sinh có thể nói được những câu đơn giản, thực hành những bài hội thoại đơn giản mà xã hội yêu cầu. 2.3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN Để tạo môi trường thuận lợi cho học sinh giao tiếp, tôi đã thực hiện vai trò là người hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong quá trình dạy học, uyển chuyển kết hợp nhiều hoạt động trong giờ dạy nhằm giúp các em tư duy, tham gia thực hành sôi nổi. Từ đó các em tự tin giao tiếp, say mê phấn đấu học bộ môn. Kết quả kiểm tra nói các em đã đạt được sau khi áp dụng một số thủ thuật Lớp 7H Khảo sát đầu Kiểm tra Kiểm tra lần 2 Kiểm tra Sỉ số: 46hs năm lần 1 học kỳ 1 Giỏi 12 14 17 19 Khá 17 16 14 17 Trung bình 11 13 13 10 Yếu 5 3 2 0 Kém 1 0 0 12
  14. Sau một thời gian áp dụng một số thủ thuật trên vào tiết dạy nói, qua trò chuyện trao đổi với học sinh đa số các em cho rằng các em cảm thấy hứng thú hơn trong các tiết học nói. Các hoạt động trên đã kích thích được sự sáng tạo cũng như sự tư duy trong suy nghĩ của học sinh. Hơn nữa hầu hết học sinh đã xác định được động cơ cần phát triển kỹ năng giao tiếp ngay từ bậc THCS, để có thái độ học tập đúng đắn hơn, chịu khó rèn luyện hơn. Điều đáng phấn khởi là các em đã biết vận dụng những tình huống trong sách giáo khoa vào cuộc sống đời thường của mình. Đây chính là điều quan trọng làm cơ sở cho học sinh tiếp tục học ở những năm sau và ở bậc học THPT sau này. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1. KẾT LUẬN Với kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm đứng lớp và được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đưa ra các thủ thuật này với hy vọng sẽ tìm ra được cách thức hữu hiệu nhất để tổ chức và điều hành các tiết học một cách hiệu quả, đặc biệt là kĩ năng nói. Tuy nhiên, các phương pháp nêu trên cần được phối hợp với các kĩ năng khác để việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh đạt kết quả cao hơn. Mặc dù bản thân đã cố gắng rất nhiều, song khả năng và sự chuẩn bị còn có nhiều hạn chế, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn, lớp học thành công và đạt hiệu quả mỹ mãn. 3.2. KIẾN NGHỊ - Nếu được sự hỗ trợ từ các cấp, các nghành và sự quan tâm từ phía cha mẹ học sinh và sự nổ lực của thầy và trò tôi tin chắc chất lượng học tập của các em sẽ được nâng cao. - Để giờ dạy đạt kết quả cao, mà khả năng của bản thân tôi còn có rất nhiều hạn chế nên chắc chắn đề tài còn nhiều vấn đề nan giải, gút mắc Rất mong các đồng nghiệp góp ý, tạo điều kiện cho tôi khắc phục những tồn tại, với mục tiêu là để kết quả dạy - học của chúng ta ngày càng tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. Người viết Trần Thị Hòa 13
  15. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Anh lớp 7 2. Nguyến Hạnh Dung (2001), Phương pháp dạy Tiếng Anh trong trường phổ thông, NXB Giáo dục. 3. Thái Hoàng Nguyên (2001), Sổ tay người dạy Tiếng Anh, NXB Giáo dục. 4. A training course teachers của tác giả Adrihers- Adrian doff 5. Đỗ Thị Châu - Một số nguyên tắc dạy nói tiếng Anh dưới góc độ tâm lý ngôn ngữ hoc. 14
  16. ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. .................................................................................................................................. ........................................................................................................................ TM. HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CHỦ TỊCH 15